Thứ năm, Ngày 2 Tháng 4 Năm 2020

Thủy sản

Gửi Email In trang Lưu
Quy trình kỹ thuật tạm thời nuôi thương phẩm cá Lăng chấm

07/06/2018 14:40

        I. Đặc điểm sinh học của cá Lăng chấm

        1. Đặc điểm hình thái:

Cá có thân dài, đầu dẹp bằng, đuôi dẹp hai bên. Da trơn, có 4 đôi râu: 1 đôi râu mũi, 1 đôi râu hàm, 2 đôi râu cằm. Râu hàm rất dài, đến giữa và cuối vây bụng.

Miệng ở phía dưới rộng hướng ra phía trước. Môi trên dày và nhô dài hơn môi dưới. Hai hàm trên và dưới đều có vành răng hàm gồm những răng nhỏ, nhọn. Vành xương hàm hình móng ngựa cong, sâu, đều. Mắt bé, ở hai bên đầu và hướng lên trên, khoảng cách hai ổ mắt rộng. Xương chẩm hình giác, dài nhọn. Khe mang rộng, màng mang không dính liền với eo mang.

Vây lưng cao to khỏe, phía trước không có răng cưa, vây mỡ dài chiếm hầu hết khoảng cách sau vây lưng dài gấp ba lần gốc vây lưng. Vây đuôi chẻ sâu chia 2 thùy: thuỳ trên dài hơn thuỳ dưới với đầu mút nhọn hoặc hơi tròn. Lỗ sinh dục và lỗ hậu môn cách biệt, lỗ hậu môn gần vây bụng hơn vây hậu môn. Lưng màu xám hơi vàng, bụng màu trắng nhạt. Trên cơ thể, vây đuôi, vây mỡ có nhiều chấm đen to, nhỏ, xắp xếp không có quy tắc. Viền sau vây lưng, vây mỡ, vây đuôi và vây hậu môn xám đen (Mai Đình Yên, 2000).        

        2. Đặc điểm dinh dưỡng:

Cá Lăng chấm là loài cá dữ điển hình: Thức ăn chủ yếu của cá Lăng là 3 loại chính: cá, tôm, côn trùng trong nước, tần số gặp từ 28 - 60%, khối lượng chiếm 15,8 - 36% tổng khối lượng thức ăn, trong ruột cá đã gặp cả mề gà và chân gà. Cá ăn được tất cả các mồi động vật mà chúng gặp, nếu mồi đó vừa cỡ được lay động (Mai Đình Yên, 2000).

3. Đặc điểm sinh trưởng:

Theo (Mai Đình Yên, 2000), cá Lăng có tốc độ sinh trưởng chậm. Trong những năm đầu, cá 1 tuổi có khối lượng trung bình 30 – 60 gam/ năm, năm thứ 2 đạt 190 - 240 gam/ năm. Từ 4 tuổi đến 8 tuổi cá đạt 1.000 – 1.800 gam và những năm về sau cá sinh trưởng chậm so với 8 năm đầu tiên. Về chiều dài, trong 4 năm đầu cá tăng nhanh về chiều dài đạt 13-17 cm, sau đó giảm dần, ở tuổi 9+ - 12+ còn 4 - 7 cm/năm.

4. Đặc điểm sinh sản:

+ Cá đực: Thân hình thon dài bụng cá nhỏ hơn bụng cá cái, gai sinh dục nhỏ, nhọn và dài hơn cá cái. Khi cá phát dục cơ quan sinh dục phồng lên có màu phớt hồng. Tinh sào cá Lăng chấm là tuyến đôi, đối xứng nhau và có màng treo đính vào phía dưới thận. Hai nhánh của tinh sào hình lược có các tua ở hai bên. Khi cá chưa phát dục tinh sào có màu nâu đỏ, khi cá phát dục tinh sào có màu trắng. Hai nhánh tinh sào hợp lại ở phía cuối cùng và đổ ra lỗ simh dục (Mai Đình Yên, 2000).

+ Cá cái: Gai sinh dục hình bầu tròn, hơi nhọn về phía vòi trứng. Khi cá phát dục cơ quan sinh dục phồng lên có màu đỏ. Bụng cá to, da bụng dầy (vào thời kỳ sinh sản cá tích nhiều mỡ) nên có thể nhầm lẫn giữa bụng của cá mang trứng và bụng của cá có chứa nhiều mỡ. (Mai Đình Yên, 2000).

Kích thước và màu sắc của buồng trứng thay đổi theo giai đoạn thành thục. Ở giai đoạn 1 - 2 có màu hồng nhạt, ở giai đoạn 3 - 4 có màu da cam hoặc vàng tươi. Bề mặt của buồng trứng có ít mạch máu phân bố. Buồng trứng giai đoạn 5 trong suốt, giai đoạn 6 có màu tím sẫm. Hai nhánh của noãn sào hợp lại ở phía cuối cùng và đổ ra lỗ sinh dục.

Hệ số thành thục của cá đực và cá cái tăng dần từ tháng 4 đạt cực đại vào tháng 6 sau đó giảm dần vào những tháng tiếp theo.

       Sức sinh sản của cá Lăng Chấm thấp, tỷ lệ thành thục trung bình là 55%. Sức sinh sản tuyệt đối tăng theo tuổi, cá từ 3 - 11 tuổi số lượng trứng đạt: 6.342- 54.575 hạt trứng. Sức sinh sản tương đối có số lượng trứng trung bình là 3.750 hạt /kg cá cái (Phạm Báu và ctv, 1999).      

        Tập tính sinh sản: Cá Lăng đẻ theo từng con lũ, nhiệt độ nước 26-28oC. Cá đẻ trứng vào các hang, hốc đá ở ven sông, suối. Hầu hết cá lớn đẻ vào tháng 6, cá nhỏ đẻ muộn hơn vào tháng 7, 8. Trứng cá chìm và dính, cá lăng đẻ trứng tại vùng trung lưu nước chảy. Trứng cá Lăng hơi tròn, hình quả lê, có màu vàng với độ đậm nhạt khác nhau, đường kính trứng trong các pha lớn, dao động 2.500 – 3.000 µm. (Mai Đình Yên, 2000).

II. Quy trình kỹ thuật nuôi thương phẩm cá Lăng chấm trong ao nước chảy

1. Điều kiện ao nuôi

Diện tích ao nuôi: 200m2 trở lên (tối ưu nhất từ 800 – 1000 m2), độ sâu nước: 1,0 – 1,5m, độ sâu bùn đáy: 0,2 – 0,3m.

- Bờ ao có thể là bờ đất hoặc được xây kè kiên cố bằng gạch hoặc bê tông. Ao có cống cấp và cống thoát chủ động.

Vị trí xây dựng ao: Ao được xây dựng tại những nơi có nguồn nước cấp chủ động, tốt nhất là gần các hồ chứa thủy nông có nguồn nước chảy qua quanh năm thuận tiện cho việc thay nước.

- Trước khi sử dụng, tiến hành tát cạn ao, dùng vôi bột tẩy ao với lượng 7- 10kg/100m2 ao. Phơi đáy ao 2 - 3 ngày sau đó lấy nước đủ vào ao.

2. Thả giống:

- Tiêu chuẩn cá giống: Cá giống khỏe mạnh, không bị bệnh tật, không bị dị hình, cá có màu ghi sẫm. Khối lượng cá giống trung bình khoảng 5 - 10g/con. Kích thước trung bình đạt từ 8 – 10 cm/con.

 - Mùa vụ thả:

+ Với cá giống lưu từ năm trước, thả giống nuôi vào tháng 3 – 4.

+ Với cá giống sản xuất trong năm, thả giống nuôi vào tháng 9 – 10.

 - Mật độ thả cá Lăng chấm là 0,8 – 1,0 con/m2. Trong ao chỉ nuôi ghép với cá mè trắng và cá mè hoa để làm sạch nước với mật độ 10 - 15 con/100m2 với cỡ giống trung bình 300g/con.

- Thả cá vào thời điểm mát trong ngày khi nhiệt độ dao động từ 25 – 300 C. Trước khi thả cá bao chứa cá được ngâm trong ao 20-30 phút nhằm cân bằng nhiệt giữa bao cá và môi trường nước ao nuôi tránh sốc cho đàn cá nuôi.

- Không nên sử dụng cá ngoài tự nhiên đánh bắt bằng sung điện vì tỷ lệ hao hụt có thể lên tới 90% thậm chí 100%.

3. Quản lý, chăm sóc

3.1 Thức ăn

- Loại thức ăn: Là thức ăn tươi sống gồm cá tạp, cá mè ...

- Cách chế biến thức ăn: Mổ bụng cá bỏ ruột, chặt nhỏ vừa cỡ miệng cá.

Cách cho ăn: Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần vào 8h và 16h.

 Lượng thức ăn: Khối lượng thức ăn dựa vào khối lượng của cá.

Trọng lượng trung bình của cá (g/con)

Lượng thức ăn (tính bằng % trọng lượng cá trong ao)

20 – 150

4,0 – 5,0

150 – 300

3,5 – 4,0

300 – 600

3,0 – 3,5

> 600

2,5 – 3

3.2 Quản lý ao nuôi

Trong ao nên đặt các sàng để kiểm tra thức ăn. Cứ 1.000 m2 đặt 2 sàng. Sàng có diện tích 1m2 được đặt cách đáy ao 10 – 20 cm.

- Cho cá ăn vào sàng ăn để theo dõi quá trình sử dụng thức ăn và điều chỉnh lượng thức ăn hàng ngày tránh dư thừa làm ô nhiễm môi trường dễ phát sinh dịch bệnh và tránh thiếu thức ăn cá chậm lớn.

- Ngoài ra nếu có điều kiện nên thả thức ăn tươi sống như cá, tôm để cá  Lăng chấm bắt mồi chủ động sẽ hạn chế được rất nhiều dịch bệnh xảy ra và khống chế được lượng thức ăn thừa và môi trường luôn sạch.

          - Hàng ngày kiểm tra lượng thức ăn sử dụng để điều chỉnh hợp lý và định kỳ kiểm tra đàn cá để phát hiện kịp thời dịch bệnh xảy ra nhằm có biện pháp ngăn chặn kịp thời.

          - Định kỳ 01 tháng/lần kiểm tra sự phát triển của đàn cá để điều chỉnh lượng thức ăn hàng này. Nếu phát hiện cá bị sây sát nên tìm hiều rõ nguyên nhân có thể là do thiếu thức ăn cá cắn nhau hoặc có thể do dịch bệnh phát sinh.

 - Thường xuyên cho nước chảy qua ao nuôi. Trong trường hợp không có nước chảy qua thì dùng máy bơm có công suất 1,5kw bơm nước liên tục 8 – 16h/ngày vào ao nuôi.

 - Trong trường hợp độ sâu ao dưới mức quy định, phải kiểm tra bờ, cống tìm chỗ rò rỉ để xử lý rồi cấp thêm nước vào ao cho đạt độ sâu quy định.

 - Nếu thấy thức ăn vẫn còn trong sàn cho cá ăn, phải giảm lượng thức ăn cho phù hợp.

 - Thường xuyên dọn cỏ, vớt bèo trong ao.

- Bờ ao bị sụt lở, đăng cống hư hỏng phải tu sửa kịp thời (đặc biệt là trong thời kỳ mưa lũ).

 3.3 Phòng và trị bệnh

- Thường xuyên treo túi vôi bột cạnh sàn cho ăn với lượng 2 – 4 kg/túi/sàn.

- Định kỳ 15 ngày/lần dùng Formalin với nồng độ 15ppm (15ml/m3) phun trực tiếp xuống ao. Để phòng bệnh cho cá.

 - Cho cá ăn đủ thành phần dinh dưỡng, bổ sung thêm vitamin và khoáng vào thức ăn để tăng sức đề kháng của cá.

 - Thay nước thường xuyên trong ao để đảm bảo chất lượng nước trong ao tốt.

 - Khi cá có dấu hiệu ăn ít hoặc bỏ ăn, chết rải rác trong ao thì cần phân tích mẫu cá để có biện pháp trị bệnh kịp thời.

  4. Thu hoạch cá

 Sau hai năm nuôi có thể thu tỉa các cá thể có kích cỡ thương phẩm, nuôi tiếp đàn cá khi đạt kích cỡ có thể thu hoạch toàn bộ. Tuy nhiên tùy thuộc vào nhu cầu, thị hiếu của thị trường mà có thể thu hoạch các cỡ khác nhau. Nên thu hoạch vào khoảng tháng 10, tháng 11 hàng năm nếu cá đạt kích cỡ vì thời gian mùa đông cá ăn kém, tốc độ sinh trưởng chậm. Sau thời gian nuôi khoảng 2 năm cá đạt kích cỡ trung bình  từ 2,5 – 2,8kg/con./.

Trung tâm Thủy sản Hà Giang

Tin khác

Trung tâm Thủy sản Hà Giang: Chuyển giao kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá Bỗng cho HTX Trí Thanh (25/05/2017 07:48)

Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Minh Tiến làm việc với Trung tâm Thủy sản (22/05/2017 15:42)

Thực hiện thành công giai đoạn I Đề tài Nghiên cứu ứng dụng sinh sản cá Lăng chấm, cá Chiên tại Trung tâm Thủy sản Hà Giang (13/09/2016 09:01)

Tái tạo những "chúa tể" sông Lô, sông Gâm (05/07/2016 10:49)

Khai giảng lớp tập huấn bồi dưỡng phương pháp Khuyến nông và kỹ thuật chuyên ngành Khuyến ngư năm 2016 (27/06/2016 08:26)

Trung tâm Thủy sản ứng dụng công nghệ sinh sản nhân tạo cho cá Lăng chấm, cá Chiên (09/05/2016 08:44)

Năm mới Thủy sản thêm tươi mới (29/01/2016 16:27)

Phương pháp phòng trị bệnh đen thân, tuột vảy ở cá Trắm cỏ (11/01/2016 14:31)

Phát triển nuôi trồng Thủy sản trên địa bàn xã Khuôn Lùng (02/02/2015 06:28)

Hà Giang: Tiềm năng nuôi cá tầm ở Trà Hồ (01/02/2015 23:28)

xem tiếp

Thăm dò ý kiến

Bạn đang tích lũy tài sản gì?
Bất động sản
Tài sản cố định
Tiền gửi ngân hàng
Tiền mặt
Vàng